(Network là hệ thống và trao đổi dữ liệu tài nguyên của 2 hoặc nhiều máy tính kết nối với nhau.)
Những năm đầu khi network được đưa vào sử dụng thì các máy tính thường chỉ có thể giao tiếp được với những máy tính cùng hãng sản xuất. Ví dụ, 1 máy tính chỉ có thể chạy hoặc DECnet solution hoặc IBM solution, chỉ một trong hai. Điều này gây ra khó khăn rất lớn đối với hệ thống mạng lúc bấy giờ. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về giải pháp mà các kỹ sư thiết kế mạng đã đề ra để giải quyết vấn đề này.
I. Protocol (giao thức)
Hai người này không thể trao đổi thông tin được với nhau là họ sử dụng không cùng một ngôn ngữ. Để giải quyết sự xung đột này thì chỉ cần họ sử dụng một ngôn ngữ mà cả hai đều biết hoặc một người học ngôn ngữ của người kia.
Tương tự hai máy tính hoặc 2 thiết bị mạng không thể giao tiếp được với nhau nếu chúng không được cài đặt cùng 1 bộ giao thức.
Protocol được định nghĩa là 1 tập những hướng dẫn và luật. Nó có tác dụng điều khiển các thực thể trong phạm vi cụ thể. Vd: luật giao thông, quy tắc bỏ phiếu,… Trong lĩnh vực máy tính, protocol quy định cách thức hoạt động của các thành phần mạng (thực thể), thể hiện mối quan hệ giữa chúng.
II. Sự phân lớp mạng
1. Mô hình tham chiếu và kiến trúc phân tầng
Quá trình trao đổi dữ liệu có thể nói nôm na bao gồm các công đoạn chính: chuyển đổi dữ liệu thành 1 chuỗi các bit nhị phân, truyền qua hạ tầng mạng (mạng dây, mạng wifi, 3G, Bluetooth,…), ở máy nhận sẽ gom các bit đó lại và chuyển thành dữ liệu ban đầu.
Chính bản thân quá trình đã tự chia thành từng công đoạn nhỏ, và các công đoạn này có quan hệ nối tiếp và phụ thuộc lẫn nhau. Việc xét các công đoạn nhỏ một cách độc lập với nhau cho phép giảm độ phức tạp trong việc thiết kế và cài đặt.
Hãy tưởng tượng rằng bạn sắp mở một công ty kinh doanh. Trước hết bạn phải lên một kế hoạch định hướng chi tiết, phân tích xem có những công việc nào cần phải thực hiện, ai sẽ làm những công việc đó, thứ tự thực hiện ra sao và các công việc ấy liên hệ với nhau như thế nào. Cuối cùng bạn sẽ chia công ty của bạn thành những bộ phận khác nhau. Để đơn giản, vd như bạn sẽ có bộ phận nhận đơn đặt hàng, bộ phận sản xuất và bộ phận giao hang. Ba bộ phận này có công việc riêng của nó và nhân viên thuộc từng bộ phận này chỉ thực hiện công việc của từng bộ phận.
Khi công ty đi vào hoạt động, các bộ phận sẽ đề các phương pháp thực tiễn để thực thi nhiệm vụ của họ. Các phương pháp này được tổng hợp thảnh một tập hướng dẫn thực hiện quy trình tiêu chuẩn và được tuân thủ nghiêm ngặt. Tất nhiên nó phải dựa vào nhiệm vụ của từng bộ phận do kế hoạch định hướng ban đầu đã quy định. Khi tìm đối tác hoặc sát nhập công ty, bạn phải dựa vào quy trình tiêu chuẩn để xét xem có phù hợp hay không.
Trong hệ thống mạng cũng có có một mô hình tham chiếu để làm cơ sở cho việc thiết kế, cài đặt và vận hành hệ thống. Cần lưu ý rằng mô hình tham chiếu chỉ là mô hình trừu tượng thể hiện sự trao đổi thông tin diễn ra như thế nào? Nó liệt kê những quá trình cần thiết cho việc truyền tin hiệu quả và chia các quá trình này thành những nhóm logic mà chúng ta gọi là tầng (lớp). Khi một hệ thống truyền thông được tổ chức dựa vào cách chia như thế này, chúng ta gọi nó là kiến trúc phân tầng (layered architecture).
Chú ý phương pháp phân tầng phải đảm bảo nguyên tắc sau:
Một hệ thống được xây dựng từ một cấu trúc nhiều tầng và phải có cấu trúc giống nhau về số lượng tầng và chức năng của mỗi tầng.
Các tầng nằm chồng lên nhau, dữ liệu chỉ được trao đổi trực tiếp từ 2 tầng kề nhau, từ tầng trên xuống tầng dưới và ngược lại.
Cùng với việc xác định chức năng của mỗi tầng, chúng ta phải xác định mối quan hệ giữa hai tầng kề nhau. Ở hệ thống truyền, dữ liệu được truyền từ tầng cao nhất xuống tầng thấp nhất, truyền qua đường nối vật lý đến tầng thấp nhất của hệ thống nhận. Sau đó dữ liệu được truyền lên tầng cao nhất của hệ thống nhận.
Chỉ có tầng thấp nhất có liên kết vật lý với nhau, còn các tầng trên chỉ có liên kết logic. Liên kết này thực hiện thông qua tầng dưới và phải tuân theo những quy định chặt chẽ (các protocol).
Để các tầng có thể thực hiện nhiệm vụ của mình và phối hợp với các tầng khác cũng đòi hỏi một tập protocol để hướng dẫn. Các kỹ sư viết ra các protocol này cũng phải dựa vào mô hình tham chiếu mà xác định nhiệm vụ của mỗi tầng. Khi họ phát triển 1 protocol cho 1 tầng, họ chỉ quan tâm đến những đặc trưng của tầng hiện tại. Những nhiệm vụ, chức năng của tầng khác đã có protocol khác quản lý.
2. Ưu điểm của mô hình tham chiếu:
Nó phân chia quá trình truyền thông qua mạng thành những thành phần nhỏ và đơn giản hơn, từ đó hỗ trợ việc phát triển, thiết kế và giải quyết các vấn đề của từng thành phần này.
Mô hình tham chiếu cho phép sử dụng thiết bị của nhiều nhà cung cấp thông qua việc tiêu chuẩn hóa các thiết bị này.
Khuyến khích việc tiêu chuẩn hóa công nghiệp vì mô hình tham chiếu định nghĩa chức năng ở từng tầng của mô hình.
Cho phép nhiều loại phần mềm cũng như phần cứng về mạng giao tiếp với nhau.
Ngăn cản không cho sự thay đổi ở tầng này ảnh hưởng đến tầng khác, giúp đơn giản hóa việc phát triển và lập trình mạng.
III. Mô hình tham chiếu OSI
Trước khi mô hình tham chiếu OSI ra đời, mạng máy tính hoặc được bảo trợ bởi chính phủ hoặc phát triển bởi những nhà cung cấp độc quyền. Và mỗi nhà cung cấp lại đưa ra những tiêu chuẩn giao thức riêng của họ. Điều này gây ra khó khăn không chỉ cho người sử dụng mà cho cả nhà sản xuất. Vì vậy vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980, ISO (International Standardization Organization – tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế) đã đề ra mô hình tham chiếu OSI (Open Systems Interconnection reference model – tạm dịch là mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở). Mục đích của mô hình này là đề ra những tiêu chuẩn chung cho các nhà cung cấp phần cứng cũng như phần mềm tuân thủ theo để tạo nên một hệ thống mạng thông suốt giữa tất cả các máy. Mô hình này được sử dụng nhiều trong việc giảng dạy các ý tưởng cơ bản về mạng máy tính. Nó phát triển ý tưởng về 1 mô hình bao gồm nhiều tầng giao thức, định nghĩa khả năng hỗ trợ hoạt động giữa các thiết bị và phần mềm. Mô hình OSI được đưa ra lần đầu tiên ở Washington DC vào tháng 2 năm 1978 bởi Hubert Zimmerman và phát triển thành chuẩn được ISO công bố vào năm 1984.
Ưu điểm kỹ thuật nổi trội nhất của mô hình tham chiếu OSI là cho phép sự truyền tải thông tin giữa các máy chủ khác loại. Có nghĩa là quá trình truyền thông có thể diễn giữa 1 máy chạy hđh Unix và 1 máy chạy hđh Windows hoặc Macintosh.
Cần phải nhớ rằng mô hình OSI không phải là mô hình vật lý. Nó là một tập các hướng dẫn cho người phát triển ứng dụng có thể sử dụng để tạo và cài đặt ứng dụng thực thi trong mạng máy tính. Ngoài ra OSI còn cho phép chế tạo và cài đặt những thiết bị, tiêu chuẩn cũng như khả năng hoạt động phối hợp trong mạng máy tính.
Mô hình tham chiếu OSI bao gồm 7 tầng:
Application: tầng ứng dụng (tầng 7).
Presentation: tầng trình diễn (tầng 6).
Session: tầng phiên (tầng 5).
Transport: tầng vận chuyển (tầng 4).
Network: tầng mạng (tầng 3).
Data link: tầng liên kết dữ liệu (tầng 2).
Physical: tầng vật lý (tầng 1).
Tổng quan về nhiệm vụ các tầng tầng: thông thường người ta hay chia thành 2 nhóm :
1. Tầng Application:
Tầng application của mô hình OSI chính là điểm giao tiếp thực sự giữa người sử dụng mà máy tính. Tầng này chỉ hoạt động khi kết nối đến mạng cần được sử dụng. Cần phải hiểu rằng, các ứng dụng không thuộc tầng này, nó chỉ là giao diện giữa các ứng dụng và tầng bên dưới của mô hình OSI. Lấy IE làm ví dụ, bạn có thể xóa hết mọi dấu vết của mạng, gỡ bỏ bộ giao thức TCP/IP, tháo card mạng ra, nhưng bạn vẫn có thể dùng IE để xem 1 tài liệu HTML trên máy bình thường. Nhưng sẽ là vấn đề nếu bạn muốn xem 1 tài liệu trên mạng. Bởi vì khi IE muốn xem 1 trang HTML trên mạng, yêu cầu đó phải được gửi qua tầng Application xuống chồng giao thức bên dưới và đi đến máy chủ.
Ngoài ra tầng Application cũng chịu trách nhiệm cho việc nhận biết và thiết lập kết nối truyền dữ liệu, xác định xem có đủ tài nguyên cho việc truyền dữ liệu đó không. Nhiệm vụ này rất quan trọng vì có nhiều chương trình sử dụng nhiều tài nguyên mạng mà đôi khi mạng vật lý hiện tại không thể đáp ứng được.
2. Tầng Presentation:
Tên của tầng này đã nói lên chức năng chính của nó: trình diễn dữ liệu đến tầng Application và chịu trách nhiệm dịch dữ liệu và định dạng mã.
Tầng này đống vai trò 1 biên dịch viên và cung cấp chức năng mã hóa và biến đổi dữ liệu. Dữ liệu trước khi truyền đi phải được mã hóa theo 1 chuẩn định trước. Ở máy nhận, dữ liệu nhận về sẽ được dịch ngược lại thành định dạng ban đầu của nó (như EBCDIC, ASCII). Bằng cách này, tầng Presentation đảm bảo dữ liệu được truyền từ tầng Application của hệ thống này có thể đọc được bởi tầng Application của hệ thống khác.
Mô hình OSI có những chuẩn giao thức định nghĩa dữ liệu tiêu chuẩn phải được định dạng thế nào. Tầng Presentation có những công việc như nén, giải nén, mã hóa, giải mã. Ngoài ra tầng này còn có thể liên quan đến xử lý đa phương tiện.
3. Tầng Session:
Tầng Session chịu trách nhiệm thiết lập, quản lý và chia thành session (phiên kết nối) giữa các thực thể của tầng Presentation. Tầng này cung cấp cơ chế dialogue control (điều khiển hội thoại – điều khiển phiên) giữa các thiết bị, các nút mạng. Nó hợp tác điều khiển sự truyền thông giữa các hệ thống với nhau. Tầng Presentation thực hiện chức năng tổ chức truyền thông bằng 3 chế độ: simplex (đơn công – truyền thông tại 1 thời điểm chỉ truyền theo một chiều), half duplex (bán song công – hai bên luân phiên nhau gửi và nhận) và full duplex (song công – truyền theo cả 2 chiều, 1 máy có thể vừa thu vừa phát).
Tầng Session còn cung cấp cho người sử dụng các chức năng cần thiết để quản trị các session của họ, cụ thể là:
Điều phối việc trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng bằng cách thiết lập và giải phóng (một cách logic) các phiên kết nối – chức năng dialog control.
Cung cấp các điểm đồng bộ để kiểm soát việc trao đổi dữ liệu.
Áp đặt các quy tắc tương tác giữa các ứng dụng người sử dụng.
Cung cấp cơ chế “take turn” trong quá trình trao đổi dữ liệu – đảm bảo việc đồng bộ hóa bằng token.
Nói về mặt cơ bản, tầng Session có nhiệm giữ data của ứng dụng này riêng biệt với data của các ứng dụng khác.
4. Tầng Transport:
Những dịch vụ thuộc tầng Transport thực hiện công việc phân đoạn data stream từ tầng trên gửi xuống, mỗi phân đoạn được gọi là segment, và thực hiện quá trình ngược lại là ghép các segment nhận được từ mạng thành 1 data stream . Chúng cung cấp dịch vụ vận chuyển thông tin đầu-cuối và có thể thiết lập kết nối logic giữa máy gửi và máy nhận trên mạng máy tính.
Tầng Transport chịu trách nhiệm cung cấp cơ chế multiplexing (chèn vào chung một kênh) những ứng dụng của tầng trên, những phiên kết nối đã được thiết lập, và xé nhỏ nó ra thành những mạch ảo. Nó che giấu tất cả các chi tiết của thông tin về mạng của các tầng trên bằng khả năng truyền dữ liệu trong suốt (transparent data transfer).
Có 2 protocol quan trọng hoạt động ở tầng này, đó là TCP hoặc UDP mà các bạn sẽ tìm hiểu kĩ hơn ở chương 6. Bạn hãy tạm chấp nhận rằng TCP đáng tin cậy còn UDP thì không. Điều này có nghĩa là những người phát triển ứng dụng mạng có nhiều lựa chọn hơn vì họ có thể sử dụng TCP hoặc UDP khi làm việc với bộ giao thức TCP/IP.
Ở tầng Transport sẽ chia thành 2 dạng truyền dữ liệu đó là hướng kết nối (Connection-Oriented Communication) và phi kết nối (Connectionless Communication).
a. Connection – Oriented Communication:
Trước khi máy phát bắt đầu gửi segment xuống lớp dưới thì TCP của máy phải liên hệ với TCP của máy nhận để thiết lập kết nối. Cái mà quá trình này tạo ra được gọi là mạch ảo. Và cách truyền dữ liệu này được gọi là hướng kết nối. Trong quá trình bắt tay khởi đầu này, TCP hai bên cũng thỏa thuận với nhau số lượng thông tin sẽ được gửi của mỗi hướng trước khi TCP của máy nhận sẽ gửi lại 1 thông tin xác nhận. Khi mọi thứ đều được thống nhất sẽ mở đường cho việc truyền thông đáng tin cậy bắt đầu.
Hình trên mô tả cách một kết nối đáng tin cậy diễn ra như thế nào giữa hệ thống gửi và hệ thống nhận. Trước hết chương trình ứng dụng của 2 máy sẽ báo cho hệ điều hànhcủa nó là kết nối chuẩn bị được khởi tạo. Hai hệ điều hành sẽ giao tiếp với nhau bằng cách gửi thông điệp qua mạng xác nhận việc truyền tải được chấp nhận và cả hai bên đều sẵn sàng truyền data. Sau khi quá trình đồng bộ này hoàn tất thì kết nối được thiết lập và data bắt đầu được truyền đi.
Trong quá trình thông tin được truyền giữa hai host, hai host sẽ theo định kì mà kiểm tra với máy kia theo quy định của protocol để đảm bảo rằng thông tin được nhận đầy đủ.
Tổng kết lại quá trình trên chúng ta có cơ chế bắt tay ba bước (three-way handshake):
Segment mang thông tin “thỏa thuận kết nối” được gửi từ máy gửi đến máy nhận để bắt đầu đồng bộ hóa.
Segment thứ 2 và thứ 3 xác nhận yêu cầu và thiết lập luật kết nối giữa 2 máy. Những segment này yêu cầu thứ tự gói tin ở máy nhận phải được đồng bộ cũng như là kết nối hai chiều được hình thành.
Segment cuối cùng cũng là segment xác nhận. Nó báo cho máy nhận biết thỏa thuận kết nói đã được chấp nhận, kết nối được thiết lập và dữ liệu có thể bắt đầu được truyền.
Cơ chế điều khiển luồng (Flow control):
Flow control là cơ chế cho phép bên nhận kiểm soát khối lượng data được truyền tải từ máy gửi. Nó giúp ngăn chặn hiện tượng tràn bộ đệm bên nhận. Ngoài ra nó còn hỗ trợ khả năng kiểm tra lỗi, những thông tin nào chưa được gửi hoặc thất lạc sẽ được yêu cầu gửi lại. Protocol có cơ chế Flow control phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Bên nhận sẽ xác nhận những segment nào đã truyền thành công cho bên gửi biết.
Những segment nào không được xác nhận sẽ phải gửi lại.
Các segment khi gửi đến máy nhận sẽ được đánh dấu lại thành số thứ tự ban đầu của nó.
Có khả năng chống tắc nghẽn, quá tải và thất thoát data.
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu máy nhận nhận quá nhiều dữ liệu mà nó không thể xử lý kịp? Máy nhận sẽ cất giữ chúng bào vùng nhớ gọi là buffer. Nhưng buffer chỉ có thể giải quyết vấn đề nếu khối lượng dữ liệu vừa phải. Nếu dữ liệu vẫn tràn ngập thì bộ nhớ của máy sẽ cạn kiệt, khi đó những dữ liệu được gửi tiếp theo sẽ bị bỏ.
Tuy nhiên tầng Transport có một cơ chế giải quyết khá tốt – cơ chế kiểm soát tràn (network flood-control). Thay vì để cho cạn kiệt bộ nhớ và dữ liệu bị mất thì tầng Transport của máy nhận sẽ phát ra 1 tín hiệu “not ready” đến máy gửi. Nó hoạt động như đèn đỏ giao thông, báo hiệu cho thiết bị ngừng truyền dữ liệu. Sau khi máy nhận đã xử lý hết segment tồn trong bộ nhớ thì tầng Transport sẽ gửi tín hiệu “ready” và quá trình truyền dữ liệu tiếp tục.
Trong quá trình truyền dữ liệu hướng kết nối, đáng tin cậy thì dữ liệu sẽ được nhận theo đúng thứ tự nó truyền đi – quá trình truyền dữ liệu sẽ thất bại nếu thứ tự đó không được đảm bảo. Nếu bất kỳ data segment nào bị mất, trùng hoặc hư hỏng trong suốt quá trình thì sẽ có 1 thông báo thất bại được gửi đi. Vấn đề này được giải quyết bằng cách máy nhận xác nhận rằng nó đã nhận tất cả mọi data segment theo đúng thứ tự.
Nói tóm lại, một dịch vụ được gọi là hướng kết nối sẽ phải đảm bảo những điều sau:
Một mạch ảo được thiết lập (như bắt tay ba bước)
Sử dụng phương pháp đánh số thứ tự.
Sử dụng phương pháp báo nhận.
Sử dụng cơ chế điều khiển luồng.
Windowing:
Việc truyền dữ liệu sẽ rất chậm nếu máy phát phải truyền đi từng segment rồi chờ báo nhận từ bên nhận mới được gửi tiếp. Cho nên trong thực tế, truyền dữ liệu thường là truyền nhiều segment liên tục. Số lượng data segment có thể được phép truyền mà không cần chờ gói tin báo nhận được thông báo trong trường window.
Nếu độ lớn của window là 1 thì máy gửi sẽ chờ tin báo nhận sau mỗi data segment truyền đi trước khi gửi tiếp segment khác.Nếu độ lớn của window là 3 thì máy gửi được phép gửi 3 segment rồi mới phải chờ gói tin báo nhận. Trong thực tế thì window không phải là con số đơn giản mà là lượng byte có thể được gửi đi.
Nếu máy nhận không nhận đủ các gói tin thì trong lần truyền sau máy gửi có thể giảm độ lớn của window để tăng hiệu quả truyền dữ liệu.
Trái ngược với truyền thông hướng kết nối, truyền thông phi kết nối sẽ truyền dữ diệu giữa 2 đầu cuối mà không cần phải thiết lập kết nối trước. Máy phát cứ truyền dữ liệu đến địa chỉ máy nhận mà không cần biết máy nhận có sẵn sàng hay không, hay thậm chí máy nhận có tồn tại hay không. Nói đơn giản, nếu truyền dữ liệu có dùng mạch ảo thì nó là hướng kết nối, ngược lại là phi kết nối.
5. Tầng Network:
Tầng Network quản lý địa chỉ thiết bị, tìm vị trí của các thiết bị trên mạng, và xác định cách tốt nhất để di chuyển dữ liệu, có nghĩa là tầng Network phải thực hiện vận chuyển lưu lượng giữa các thiết bị không được gắn kết trực tiếp.
Địa chỉ mạng: được cung cấp bởi giao thức định địa chỉ mạng (như IP – internet protocol). Nó là cái nhãn gán cho các thiết bị tham gia vào mạng máy tính. Nó thực hiện 2 nhiệm vụ chính là xác định máy hoặc giao diện mạng và cho biết vị trí của người sử dụng.
Router là thiết bị hoạt động ở tầng này, cung cấp dịch vụ định tuyến trong mạng. Quá trình diễn ra như sau: khi một packet được gửi đến router, địa chỉ IP đích sẽ được kiểm tra. Router sẽ kiểm tra bảng định tuyến để chuyển packet đi. Nếu router không tìm thấy lớp mạng đó thì gói tin sẽ bị bỏ.
Metric: là giá trị tương đương với khoảng cách đến mạng đích. Mỗi phương pháp định tuyến sẽ sử dụng các phương pháp khác nhau để tính toán khoảng cách này.
INT: interface, mỗi giao diện của router đại diện cho 1 lớp mạng riêng biệt.
6. Tầng Data Link:
Tầng Data Link cung cấp sự truyền dẫn vật lý và xử lý những thông báo lỗi, network topology và điều khiển luồng. Điều này nghĩa là tầng Data Link đảm bảo gửi thông điệp đến đúng thiết bị trên mạng LAN dựa vào địa chỉ phần cứng, và dịch thông điệp từ tầng Network thành bit để tầng Physical truyền đi.
Tầng Data Link định dạng thông điệp thành data frame và thêm vào header chứ địa chỉ phần cứng của thiết bị nguồn và đích. Header tạo thành vỏ bọc, bao lấy thông điệp ban đầu tương tự như khi phóng vệ tinh. Vệ tinh sẽ được đóng thêm vào bộ phận định vị, bộ phận tạo lực đẩy, … Những thứ gắn thêm vào chỉ hoạt động ở 1 giai đoạn nhất định, và sẽ bị bỏ đi khi hoàn thành nhiệm vụ của nó.
Tầng Data Link theo chuẩn Ethernet có 2 tầng con:
LLC (Logical Link Control): kiểm soát kết nối luận lý, kiểm soát sự truy cập mạng và định nghĩa cách thức dữ liệu ở tầng trên được cho vào khối để truyền đi trên mạng.
MAC (Media Access Control): kiểm soát truy cập môi trường truyền thông, chỉ ra cách mà các packet được đưa vào môi trường truyền. MAC address là địa chỉ được gán cho mỗi thiết bị mạng. Địa chỉ này là duy nhất trên thế giới và thường được nhà sản xuất gán theo quy tắc quản lý bởi IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers) .
7. Tầng Physical:
Nhiệm vụ cơ bản là gửi và nhận dữ liệu dạng bit. Tầng này giao tiếp trực tiếp nhiều loại môi trường truyền thông khác nhau. Đối với mỗi môi trường thì sẽ có cách biểu diễn dãy bit khác nhau và đều đòi hỏi protocol tương ứng.
Tầng này định rõ những yêu cầu về kỹ thuật, phương pháp, thủ tục, chức năng để thiết lập, duy trì và ngắt kết nối vật lý giữa các hệ thống đầu cuối.
Bộ nội và topology vật lý của tầng cũng được định nghĩa bởi mô hình OSI nhằm cho phép nhưng hệ thống khác loại có thể truyền thông với nhau.
TỔNG QUAN CHỨC NĂNG CÁC TẦNG OSI // Please do not throw sausage pizza away
IV. Sự đóng gói dữ liệu
Ở máy phát, phương thức đóng gói dữ liệu hoạt động như sau:
Thông tin người dùng được chuyển thành dữ liệu để truyền qua mạng.
Dữ liệu được chuyển thành segment (và 1 kết nối đáng tin cậy được thiết lập giữa máy phát và máy nhận)
Segment được chuyển thành packet hoặc datagram, 1 địa chỉ logic nằm trong header được gắn vào để các gói tin có thể được định tuyến thông qua mạng.
Packet hoặc datagram được chuyển thành frame để truyền đi trên mạng cục bộ. MAC address cũng được gắn vào frame để phân biệt các máy trong mạng.
Frame được chuyển thành bits, các chế độ mã hóa được sử dụng ở đây
Không có nhận xét nào:
- Nội dung nên liên quan tới bài viết.
- Hãy đóng góp ý kiến của bạn để Blogger Việt hoàn thiện hơn.